BỆNH VIỆN ĐA KHOA
BỆNH VIỆN ĐA KHOA
Ngày cập nhật: 11/08/2020
 Thuốc cản quang (TCQ) là những thuốc gây tăng hấp thu tia X và các loại tia khác khi chiếu qua cơ thể, do đó thuốc làm hiện rõ cấu trúc của cơ quan tập trung nhiều thuốc, có tác dụng hỗ trợ cho việc chẩn đoán bệnh.

BỆNH VIỆN ĐA KHOA SÀI GÒN
THÔNG TIN THUỐC
Số: /BVĐKSG-KD

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

TP. Hồ Chí Minh , ngày 24 tháng 07 năm 2020

 

THÔNG BÁO

V/v Thuốc cản quang – vấn đề dị ứng thuốc cản quang

Kính gửi:

Bác sĩ điều trị

Khoa lâm sàng

  1. I - Thông tin chung về thuốc cản quang:
  • Thuốc cản quang (TCQ) là những thuốc gây tăng hấp thu tia X và các loại tia khác khi chiếu qua cơ thể, do đó thuốc làm hiện rõ cấu trúc của cơ quan tập trung nhiều thuốc, có tác dụng hỗ trợ cho việc chẩn đoán bệnh.
  • Cùng với sự phát triển của công nghệ chẩn đoán hình ảnh, thuốc cản quang ngày càng được sử dụng rộng rãi. Trong đó, thuốc cản quang có chứa iod được sử dụng phổ biến nhất.
  • Tuy vậy, những vấn đề về an toàn trong sử dụng thuốc cản quang ít được đề cập trong các giáo trình dược lý cũng như các tài liệu y văn mặc dù đây là thuốc có liều tiêm qua đường tĩnh mạch lớn hơn nhiều các thuốc điều trị khác.
    1. II - Dịch tễ của thuốc cản quang:
  • Mặc dù thuốc cản quang chứa iod được coi là tương đối an toàn, nhưng những phản ứng tương tự dị ứng thuốc lại xảy ra với một số lượng khá lớn bệnh nhân.
  • Những phản ứng này có thể chia ra làm hai loại: phản ứng nhanh và phản ứng chậm.
    • +Phản ứng nhanh (trong vòng 1 giờ sau khi đưa thuốc) bao gồm mề đay, phù mạch, nặng hơn là phù thanh quản, hạ huyết áp và thậm chí tử vong.
    • +Phản ứng chậm xảy ra từ 1 giờ đến 1 tuần sau khi sử dụng thuốc và thường có biểu hiện chủ yếu ở da.
  • Trong cơ sở dữ liệu báo cáo ADR của Trung tâm DI&ADR Quốc gia từ năm 2006 đến năm 2017 đã có tổng số 1037 báo cáo liên quan đến thuốc cản quang chứa iod cụ thể như sau:

Bảng 1: Số lượng báo cáo ADR liên quan đến thuốc cản quang

Năm

Số lượng báo cáo ADR liên quan tới TCQ có chứa iod

Tổng số báo cáo ADR

Số lượng ADR liên quan tới TCQ chứa iod

Tỷ lệ số báo cáo TCQ chứa iod/ tổng số báo cáo (%)

2006 - 2011

135

10777

282

1,25

2012 - 2017

902

49990

1333

1,80

Tổng

1037

60767

1615

1,70

 

  • Số báo cáo ADR liên quan đến thuốc cản quang chiếm 1,70% tổng số báo cáo trong CSDL báo cáo ADR tại Việt Nam. Các loại thuốc cản quang được ghi nhận trong các báo cáo ADR là: Xenetic (iobitridol); Telebrix (ioxithalamat) và Ultravist (iopromid), Pamiray (iopamidol), Iopamiro (iopamidol).
  • Phần lớn các báo cáo về TCQ là các ADR nhẹ như khó chịu, mệt mỏi, ngứa, mày đay, ban đỏ, nôn và buồn nôn.
  • Ðối với các phản ứng nghiêm trọng, đáng chú ý có 358 trường hợp sốc phản vệ.

Bảng 2: Các biểu hiện ADR thường gặp

 

STT

Hệ cơ quan bị ảnh hưởng

Tần số

Tỷ lệ %

Tần số

Tỷ lệ %

2006 - 2011

2012 - 2017

1

Rối loạn toàn thân (phản vệ/sốc phản vệ, sốt, rét run, kích thích,…)

99

35,11

585

43,89

Phản vệ/sốc phản vệ

27

9,57

331

24,83

2

Rối loạn da và mô dưới da (ban da, mày đay, mẫn ngứa, dát sẫn,…)

71

25,18

366

27,46

3

Rối loạn tiêu hóa (buồn nôn, nôn, đau thượng vị,…)

35

12,41

161

12,08

4

Rối loại hô hấp (khó thở, nóng họng, co thắt phế quản, ho,…)

16

5,67

92

6,90

5

Rối loạn thần kinh trung ương và ngoại biên (đau đầu, chóng mặt, liệt chi dưới,…)

19

6,74

58

4,35

6

Rối loạn mạch (viêm tắc tĩnh mạch, thoát mạch ngoại vi, vỡ ven, sưng phồng nơi tiêm,…)

3

1,06

32

2,40

7

Rối loạn tim mạch (tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim, mạch nhanh,…)

31

10,99

25

1,88

8

Rối loạn thị giác (chảy nước mắt, đỏ mắt,..)

0

0,00

4

0,30

9

Rối loạn chuyển hóa và năng lượng (hạ calci máu)

3

1,06

0

0,00

10

Rối loạn thính giác và tiền đình (ù tai)

1

0,35

1

0,80

11

Rối loạn gan mật (tăng enzym gan)

1

0,35

1

0,80

12

Rối loạn tiết niệu (vô niệu)

0

0,00

1

0,80

13

Thiếu thông tin ADR

3

1,06

7

0,58

Tổng

282

100,00

1210

100,00

 

  • Số lượng báo cáo ADR liên quan đến thuốc cản quang giai đoạn 2012-2017 gấp 6,68 lần số lượng báo cáo giai đoạn 2006-2011. Tỷ lệ báo cáo về thuốc cản quang trong cơ sở dữ liệu qua hai giai đoạn này tăng từ 1,25% lên 1,80%.
  • Trong giai đoạn 2006-2011, biệt dược Telebrix (acid ioxitalamic) được báo cáo nhiều nhất (chiếm 54,81%), sau đó là  Xenetic (iobitridol) chiếm 24,44% và Ultravist (iopromid) chiếm 17,04%. Sang đến giai đoạn 2012-2017, Xenetic (iobitridol) và Ultravist (iopromid) có số lượng báo cáo lớn nhất (lần lượt chiếm 39,14% và 23,50%), sau đó là Omnipaque (iohexol) chiếm 15,30%. Cơ sở dữ liệu cũng đã ghi nhận báo cáo với các thuốc cản quang khác như Pamiray (iopamidol), Iopamiro (iopamidol), Visipaque (iodixanol) và Hexabrix (acid ioxaglic) (bảng 3).

Bảng 3: Số lượng báo cáo ADR liên quan đến các loại thuốc cản quang

STT

Tên thuốc

Số báo cáo (2006 - 2011)

Tỷ lệ % (n=135)

Số báo cáo (2012 - 2017)

Tỷ lệ % (n=902)

1

Telerix (acid ioxitalamic)

74

54,18

69

7,65

2

Xenetix (iobitridoi)

33

24,44

353

39,14

3

Ultravist (iopromid)

23

17,04

212

23,50

4

Pamiray (iopamidol)

4

2,96

0

0

5

Iopamiro (iopamidol)

1

0,74

45

4,99

Iopamidol (iopamidol)

0

0

5

0,55

Lopamiro (iopamidol)

0

0

4

0,44

6

Omnipaque (iohexol)

0

0

138

15,30

7

Visipaque (iodixanol)

0

0

2

0,22

8

Hexabrix (acid ioxaglic)

0

0

73

8,09

9

Không rõ thông tin về thuốc

0

0

1

0,11

 

Tổng

135

100

902

100

 

  1. III - Các yếu tố nguy cơ:
  • Trên từng bệnh nhân, nhìn chung các ADR do thuốc cản quang rất khó dự đoán trước. Tuy nhiên, các yếu tố nguy cơ dẫn đến tỷ lệ xảy ra ADR cao hơn trên một số quần thể bệnh nhân nhất định đã được xác định.

Bảng 4: Các yếu tố nguy cơ có thể gây phản ứng tương tự dị ứng với thuốc cản quang

STT

Yếu tố nguy cơ

1

Phản ứng với thuốc cản quang trước đó

2

Tiền sử dị ứng

3

Bệnh tim mạch

4

Mất nước

5

Bệnh thận

6

Tuổi: trẻ sơ sinh/người cao tuổi

7

Bệnh về huyết học/chuyển hóa (ví dụ: hồng cầu hình liềm…)

8

Lo âu/trầm cảm

9

Thuốc: thuốc chẹn beta, interleukin-2, aspirin hay NSAIDs

10

Mùa: thời kỳ dị ứng phấn hoa

 

 

  1. IV - Xử trí và dự phòng ADR do thuốc cản quang chứa iod gây ra:
  • Thận trọng khi sử dụng thậm chí tránh sử dụng trên các bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ có thể góp phần làm giảm phản ứng quá mẫn với thuốc cản quang.
  • Hiện tại, có rất nhiều tranh cãi xung quanh lợi ích của việc sử dụng corticoid để dự phòng các phản ứng quá mẫn do thuốc cản quang.
  • Laser và cộng sự khẳng định rằng dự phòng bằng corticoid (khoảng > 6h trước khi dùng thuốc) có thể làm giảm tỷ lệ phản ứng với thuốc cản quang ion hóa, trong khi đó Wolf và cộng sự cho rằng sử dụng thuốc cản quang không ion hóa là biện pháp phòng ngừa duy nhất có hiệu quả. Hai nghiên cứu khác của Greenberger và Lasser cũng ủng hộ điều trị dự phòng bằng corticoid và kháng histamin trước khi sử dụng thuốc cản quang không ion hóa.
  • Việc áp dụng test lẩy da trước khi sử dụng cũng là một biện pháp dự phòng gây nhiều tranh cãi. Phản ứng test da dương tính có thể phát hiện được một số phản ứng nhanh đối với thuốc cản quang tuy nhiên giá trị dự đoán không rõ ràng trong trường hợp cho kết quả âm tính
  • Việc xử trí kịp thời sốc phản vệ đóng vai trò rất quan trọng. Hiệp hội chẩn đoán hình ảnh niệu sinh dục Châu Âu (ESUR) đã có hướng dẫn xử trí cho các trường hợp phản ứng cấp tính với thuốc cản quang.

Bảng 5: Hướng dẫn xử trí sốc phản vệ của ESUR năm 2018

Hướng dẫn xử trí sốc phản vệ

1. Gọi nhóm hồi sức

2. Làm thông thoáng đường thở nếu cần thiết

3. Nâng cao chân bệnh nhân nếu bị tụt huyết áp

4. Thở oxy (6-10 L/phút)

5. Tiêm bắp adrenalin (epinephrine) [1:1000], 0,5ml (0,5mg) với người lớn, nhăc lại nếu cần. Đối với trẻ nhỏ từ 6 – 12 tuổi: 0,3 ml (0,3mg) tiêm bắp. Đối với trẻ nhỏ dưới 6 tuổi: 0,15 ml (0,15mg) tiêm bắp

6. Truyền dung dịch tĩnh mạch (ví dụ: dung dịch muối sinh lý, dung dịch Ringer Lactat)

7. Thuốc kháng histamine H1 (ví dụ: tiêm tĩnh mạch diphenhydramin (Dimerol) 25-50mg)

 

  • Tại Việt Nam, Bộ Y tế cũng đã cập nhật phác đồ xử trí cấp cứu phản vệ (Thông tư số 51/2017/TT-BYT ngày 29/12/2017) với các biện pháp cơ bản là ngừng dùng thuốc, cho bệnh nhân nằm tại chỗ, tiêm bắp   adrenalin dung dịch 1/1000 và các thuốc chống dị ứng đặc hiệu khác; thở oxy, bù nước, chất điện giải (nếu cần).
    1. V - Tổng kết:
  •  Trong vòng 6 năm trở lại đây, các báo cáo ADR liên quan đến thuốc cản quang chứa iod, đặc biệt là các báo cáo nghiêm trọng có xu hướng tăng lên. Tín hiệu nguy cơ và mối liên quan giữa việc sử dụng thuốc cản quang và phản ứng sốc phản vệ trên bệnh nhân đã được ghi nhận từ cơ sở dữ liệu của Việt Nam cũng như từ cơ sở dữ liệu của Tổ chức Y tế Thế giới. Do vậy, việc xây dựng và triển khai quy trình quản lý và sử dụng thuốc cản quang tại các cơ sở khám, chữa bệnh cũng như cập nhật hướng dẫn xử trí sốc phản vệ đóng vai trò quan trọng giúp giảm thiểu các tai biến liên quan đến thuốc cản quang trong thực hành.
  • Trong khi hiệu quả của việc dự phòng các ADR do thuốc cản quang vẫn chưa được chứng minh rõ ràng, cán bộ y tế cần chú ý khai thác tiền sử, thận trọng với các đối tượng có nguy cơ cao, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng bộ cấp cứu sốc phản vệ cũng như kỹ năng xử trí sốc phản vệ trước khi sử dụng các thuốc này.

Nguồn tham khảo: http://magazine.canhgiacduoc.org.vn/Magazine/Details/205

                Trân trọng


Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu: KD

ĐƠN VỊ TTT

DS. HOÀNG NGỌC TƯỜNG VI

 

TRƯỞNG BAN GIÁM SÁT THÔNG TIN THUỐC

 

BS.CKII. NGUYỄN KHẮC VUI


BẢN ĐỒ VỊ TRÍ
LIÊN HỆ
BỆNH VIỆN ĐA KHOA
Địa chỉ: 125 Lê Lợi, Phường Bến Thành , Quận 1 , TP Hồ Chí Minh
Điện thoại: (028) 38291711 - (028) 38216589
Email : bvsaigon@tphcm.gov.vn
Website: benhviendakhoasaigon.vn